Công ty bảo hiểm nhân thọ có dễ phá sản không?

Theo Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 quy định về việc phá sản doanh nghiệp bảo hiểm như sau:

“Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, sau khi áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán mà vẫn mất khả năng thanh toán thì việc phá sản doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản doanh nghiệp.”

Như vậy doanh nghiệp bảo hiểm phá sản khi:

  • Không còn khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn
  • Sau khi áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán mà vẫn mất khả năng thanh toán

Có thể thấy, công ty bảo hiểm cũng giống như các mô hình công ty khác hay mô hình tổ chức tín dụng như các ngân hàng, đều là hình thức kinh doanh nên đều có khả năng bị phá sản khi gặp rủi ro trong quá trình kinh doanh và rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

Tuy nhiên khả năng phá sản của các công ty bảo hiểm nhân thọ rất thấp bởi trước khi cấp giấy phép hoạt động, các công ty bảo hiểm phải đáp ứng về tiềm lực tài chính theo quy định của Pháp luật như vốn điều lệ, vốn pháp định. Và đặc biệt, trong khi hoạt động phải tuân thủ theo Luật Kinh doanh bảo hiểm Việt Nam về đảm bảo khả năng thanh toán: 

1. Doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

2. Doanh nghiệp bảo hiểm được coi là có đủ khả năng thanh toán khi đã trích lập đầy đủ dự phòng nghiệp vụ theo quy định tại Điều 96 của Luật này và có biên khả năng thanh toán không thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu theo quy định của Chính phủ.

3. Biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm là phần chênh lệch giữa giá trị tài sản và các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp bảo hiểm.

Trong đó, Quy định về dự phòng nghiệp vụ và biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm được thể hiện tại điều 96 và 64 trong Luật như sau:

Khoản 2 Điều 64 Nghị định 73/2016/NĐ-CP quy định biên khả năng thanh toán tối thiểu của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ:

2. Biên khả năng thanh toán tối thiểu của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe:

a) Đối với hợp đồng bảo hiểm liên kết đơn vị, bằng 1,5% dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm cộng với 0,3% số tiền bảo hiểm chịu rủi ro;

b) Đối với hợp đồng bảo hiểm liên kết chung và hợp đồng bảo hiểm hưu trí, bằng 4% dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm cộng với 0,3% số tiền bảo hiểm chịu rủi ro;

c) Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khác và hợp đồng bảo hiểm sức khỏe:

– Có thời hạn 05 năm trở xuống: Bằng 4% dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm cộng với 0,1% số tiền bảo hiểm chịu rủi ro;

– Có thời hạn trên 05 năm: Bằng 4% dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm cộng với 0,3% số tiền bảo hiểm chịu rủi ro.

Điều 96 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định về Dự phòng nghiệp vụ:

1. Dự phòng nghiệp vụ là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập nhằm mục đích thanh toán cho những trách nhiệm bảo hiểm đã được xác định trước và phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết.

2. Dự phòng nghiệp vụ phải được trích lập riêng cho từng nghiệp vụ bảo hiểm và phải tương ứng với phần trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm.

3. Bộ Tài chính quy định cụ thể về mức trích lập, phương pháp trích lập dự phòng nghiệp vụ đối với từng nghiệp vụ bảo hiểm.

Thông qua các văn bản Pháp luật, Bộ tài chính đã có những quy định rõ ràng về trích lập dự phòng và biên khả năng thanh toán để các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện trách nhiệm đã cam kết với người tham gia.

Nếu doanh nghiệp bảo hiểm rơi vào trường hợp có nguy cơ mất khả năng thanh toán phải báo cáo ngay cho Bộ Tài chính về thực trạng tài, nguyên nhân và các biện pháp khắc phục kịp thời. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không khôi phục được khả năng thanh toán theo phương án đã được chấp thuận, Bộ Tài chính ra quyết định thành lập Ban kiểm soát khả năng thanh toán để áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm.

Nếu công ty bảo hiểm nhân thọ phá sản thì các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ của tôi sẽ ra sao?

Công ty bảo hiểm nhân thọ sẽ phá sản?

Theo Khoản 2, Điều 80, Luật kinh doanh bảo hiểm 2000, Ban kiểm soát khả năng thanh toán có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

“a) Chỉ đạo và giám sát việc triển khai thực hiện các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán theo phương án đã được chấp thuận;

b) Thông báo cho các cơ quan nhà nước có liên quan về việc áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán để phối hợp thực hiện;

c) Hạn chế phạm vi và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm;

d) Đình chỉ những hoạt động có thể dẫn đến việc doanh nghiệp bảo hiểm mất khả năng thanh toán;

đ) Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm chuyển giao toàn bộ hợp đồng bảo hiểm của một hoặc một số nghiệp vụ bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác;

e) Tạm đình chỉ quyền quản trị, điều hành và yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thay thế thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) nếu xét thấy cần thiết;

g) Yêu cầu Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc) miễn nhiệm, đình chỉ công tác đối với những người có hành vi vi phạm pháp luật, không chấp hành phương án khôi phục khả năng thanh toán đã được chấp thuận;

h) Kiến nghị với Bộ Tài chính tiếp tục hoặc chấm dứt các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán;

i) Báo cáo Bộ Tài chính về việc áp dụng và kết quả của việc áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán.”

Tóm lại, trường hợp công ty bảo hiểm nhân thọ bị phá sản có thể xảy ra nhưng xác suất thấp vì khi doanh nghiệp bảo hiểm có nguy cơ mất khả năng thanh toán, Bộ tài chính sẽ có phương án chỉ đạo doanh nghiệp lập phương án khôi phục khả năng thanh toán, củng cố tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp, thành lập Ban kiểm soát khả năng thanh toán để áp dụng các biện pháp khôi phục kịp thời.

Tuy nhiên, nếu áp dụng tất cả các biện pháp trên mà vẫn không khôi phục được khả năng thanh toán thì việc phá sản doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện theo quy định của pháp luật. Vậy trong trường hợp này, quyền lợi của người tham gia bảo hiểm được xử lý ra sao? Cùng xem tại đây nhé.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *